Ngữ pháp HSK 2

Phân biệt 想, 要 và 会

要 / 想 / 会

yào / xiǎng / huì

想 là muốn làm gì, 要 là định làm và quyết tâm hơn, 会 là biết làm do đã học. Phủ định của 想 và 要 đều là 不想.

Cấu trúc Chủ ngữ + 想/要/会 + động từ

想 là muốn, chưa phải đã quyết

想 đứng trước động từ để nói một mong muốn hoặc một ý định còn nhẹ. 我想去中国 là tôi muốn đi Trung Quốc, có thể mới là nguyện vọng. Giọng không ép người nghe phải thu xếp ngay. Trên trang chủ, câu trong mục gia sư nói 想 là mong muốn hoặc dự định nhẹ, còn 要 mạnh hơn. Bài này giữ đúng hướng đó và thêm 会, vì điểm trong chương trình là bộ ba chứ không chỉ một cặp. Khi mời nước, 你想喝什么? lịch sự vì nó hỏi điều người kia muốn, không áp đặt. Phủ định của ý muốn này là 不想: 我不想去, tôi không muốn đi. Không dùng 没想 cho nghĩa đó ở cấp này. 没想 thường rơi vào chuyện chưa kịp nghĩ, một nghĩa khác.

要 là định làm, hoặc là cần

要 trước động từ chặt hơn 想. Người nói đã nghiêng về hành động: 我要学习汉语, tôi sẽ học, tôi định học, không chỉ thấy hay hay. Trong lời người lớn nói với trẻ, 要 còn mang sắc cần phải. Vì vậy đừng dùng 要 khi chỉ đang mơ một chuyến đi. Người nghe có thể tưởng bạn đã chốt vé. 要 còn một nghĩa nữa, tách khỏi mẫu này: 我要一杯茶 là tôi cần một tách trà, 要 nhận tân ngữ là vật chứ không nhận một động từ. Bài này chỉ nói mẫu 要 cộng động từ. Khi 要 nghĩa là đừng, trong câu mệnh lệnh 不要说话, đó là lời cấm, không phải phủ định của ý muốn theo dòng tóm tắt trong danh mục. Dòng tóm tắt nói phủ định của 想 và của 要, với nghĩa không muốn, đều là 不想. Giữ 不要 cho lời khuyên và lời cấm.

会 là biết làm vì đã học

会 trước động từ ở điểm này nghĩa là có kỹ năng do học được. 我会说汉语, tôi biết nói tiếng Trung. Nó không phải tôi sẽ nói một câu ngay bây giờ. Tiếng Việt gộp biết và sẽ vào những chữ khác nhau, nên người học dễ lấy 会 để nói tương lai. Tương lai gần của một việc đã định thường là 要 hoặc 会 ở một mẫu khác, khi 会 nghĩa là chắc sẽ, như 会下雨. Ở HSK 2, điểm đang học nhấn vào kỹ năng. Hãy thử câu của chính bạn với một việc bạn học được: bơi, nấu cơm, lái xe, đọc chữ Hán. Nếu câu tiếng Việt của bạn là biết thì đặt 会. Nếu câu tiếng Việt là muốn thì đặt 想. Nếu câu tiếng Việt là sẽ hoặc cần phải thì xem lại 要. Ba chữ đứng cùng một chỗ trong câu, ngay sau chủ ngữ và trước động từ, nên chỉ có nghĩa mới tách được chúng.

Một câu mời và một câu từ chối

你想喝什么? hỏi sở thích, đúng với ví dụ trên trang chủ. Trả lời có thể là 我想喝茶, tôi muốn uống trà, hoặc 我要一杯茶 nếu đang gọi món và 要 nhận đồ uống chứ không nhận động từ 喝. Đừng trả lời 我会喝茶 để nói mình muốn một tách. Câu đó chỉ nói bạn biết uống trà, nghe thừa và lệch. Khi từ chối một lời rủ, 我不想去 nhẹ và rõ. 我不要去 cũng gặp trong khẩu ngữ nhưng dễ gắt. Danh mục chọn 不想 làm phủ định cho cả 想 lẫn 要 trong nghĩa ý muốn, nên bài này dạy 不想 trước. Kỹ năng thì phủ định riêng bằng 不会. Tách ba phủ định này ra giấy một lần, rồi mới nói. Nhầm chúng thì câu vẫn có chữ Hán đúng từng từ nhưng ý thì ngược.

Ví dụ

  • 我想去中国。

    Wǒ xiǎng qù Zhōngguó.

    Tôi muốn đi Trung Quốc.

  • 我会说汉语。

    Wǒ huì shuō Hànyǔ.

    Tôi biết nói tiếng Trung.

  • 我要学习汉语。

    Wǒ yào xuéxí Hànyǔ.

    Tôi định học tiếng Trung.

  • 你想喝什么?

    Nǐ xiǎng hē shénme?

    Bạn muốn uống gì?

Lỗi thường gặp

  • 我要说汉语。

    我会说汉语。

    Khi muốn nói mình biết nói tiếng Trung vì đã học, dùng 会. 要 ở đây bị nghe thành tôi định nói hoặc tôi đòi nói, không phải tôi có kỹ năng.

  • 我不想会开车。

    我不会开车。

    Phủ định kỹ năng là 不会. 不想 phủ định ý muốn, không phủ định việc biết làm. Danh mục nói phủ định của 想 và 要 là 不想 khi ý là không muốn, không áp dụng câu đó cho 会.

App StoreGoogle Play