Ngữ pháp HSK 1
Câu với 有
有字句
yǒu zì jù
Dùng 有 để nói ai đó sở hữu cái gì hoặc nơi nào tồn tại cái gì. Phủ định bắt buộc dùng 没有, không dùng 不有.
Cấu trúc A + 有 + B
Có đồ và có ai ở một chỗ
有 gánh hai việc mà tiếng Việt cùng gọi là có. Việc thứ nhất là sở hữu: 我有三个中国朋友, tôi có ba người bạn Trung Quốc. Người đứng trước, vật hoặc người được có đứng sau. Việc thứ hai là tồn tại: một nơi đứng trước, thứ xuất hiện ở nơi đó đứng sau. 我们家没有猫, nhà tôi không có mèo, thuộc về phía phủ định của kiểu này. Cả hai việc dùng cùng một chữ 有. Không cần chia thì, không cần thêm là. Khi đếm, số và lượng từ đứng giữa 有 và danh từ, đúng mẫu số từ cộng lượng từ. Bài lượng từ nói vì sao không được bỏ 个. Ở đây chỉ cần nhớ 有 không nuốt mất lượng từ.
Phủ định chỉ có 没有
Danh mục nói thẳng: phủ định bắt buộc dùng 没有, không dùng 不有. 不 đi với 是, với tính từ, với nhiều động từ ý muốn. 有 không nhận 不. Viết 不有 là lắp phủ định của 是 sang một động từ khác. 没有 là một khối. Trong câu tồn tại, 没有 đứng ở đúng vị trí của 有: 房间里没有人, trong phòng không có người. Đừng thêm 了 để cho câu phủ định nghe có vẻ đã qua. Chưa có hoặc không có thì 没有 là đủ. Khi nói một việc hành động chưa làm, lại sang 没 cộng động từ của bài 了, không dùng 没有 như một trợ từ vạn năng.
Đừng đổi 有 thành 是
我有一本书 là tôi có một quyển sách. 这是一本书 là đây là một quyển sách. Câu trước nói sở hữu, câu sau nói nhận diện. Người mới hay viết 我是一本书 khi muốn nói tôi có sách, vì trong đầu đang dịch có thành một động từ chung. Đọc lại tiếng Việt: nếu câu là tôi có thì dùng 有. Nếu câu là đây là hoặc tôi là thì dùng 是. Với nơi chốn, 桌子上有书, trên bàn có sách, không phải 桌子上是书 trừ khi bạn đang chỉ và đồng nhất thứ trên bàn với sách trong một câu nhận diện hẹp. Ở HSK 1, hãy chọn 有 cho có và tồn tại.
Bạn bè, nhà cửa, đồ trong cặp
Ba tình huống đáng tập vì chúng trở đi trở lại ở HSK 1: giới thiệu gia đình và bạn, mô tả trong nhà có gì, kể trong cặp có gì. Mỗi tình huống viết một câu có và một câu không. Câu có thì nhớ lượng từ khi có số. Câu không thì 没有, không sáng tạo thêm chữ. Sau đó đổi chủ ngữ. 他有 một câu, 我没有 một câu. Khi đã vững, hãy nối với câu 是: 他是我的朋友, còn 我有三个朋友. Hai bài đứng cạnh nhau trên mục lục vì người học tìm ngữ pháp cơ bản thường hỏi cả là lẫn có trong cùng một buổi. Viết đúng từng chữ một buổi còn hơn học mười mẫu rồi trộn.
Ví dụ
我有三个中国朋友。
Wǒ yǒu sān gè Zhōngguó péngyou.
Tôi có ba người bạn Trung Quốc.
我们家没有猫。
Wǒmen jiā méiyǒu māo.
Nhà tôi không có mèo.
Lỗi thường gặp
我没有有猫。
我没有猫。
没有 đã mang cả phủ định lẫn 有. Không viết thêm một 有 nữa, và không viết 不有.
家里是一只猫。
家里有一只猫。
是 nhận diện A là B. Sự tồn tại của một con vật trong nhà dùng 有. Nhầm hai động từ này thì câu giới thiệu nhà cửa bị lệch nghĩa.